Tieudietvietcong's Blog

Freedom, Democracy, Human Rights, No Communism For Vietnam

HỒ CHÍ MINH, MẠC ĐĂNG DUNG THẾ KỶ 20

 

HỒ CHÍ MINH, MẠC ĐĂNG DUNG

THẾ KỶ 20

            

* Bút Xuân  TRẦN CÔNG TỬ

 

 

Ông Nguyễn sinh Cung (tức Hồ chí Minh) vừa hát xong bài “Ai bảo đội trôn là khổ” giọng ông nhừa nhựa như giọng mụ xướng ca Khánh Lon xưa kia hát nhạc thằng giặc Trịnh cộng Sơn để làm nản lòng các chiến sĩ Quân lực Việt Nam Cộng Hòa mà Tổng Cục Chiến tranh Chiến trị và Bộ Thông Tin cứ ăn no ngủ kĩ, tối thứ sáu đi nhẩy đầm, sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi; khi sang đến hải ngoại, thấy rõ bộ mặt Việt gian Cộng sản của thằng giặc điếm nhạc nhưng con mụ xướng ca Khánh Lon vẫn cứ ca thằng điếm chảy Trịnh Cộng lên tới mây xanh bởi xưa kia nó đã cho con mụ này hầu hạ bưng bô cho nó nhiều lần.

 

Trong tháng 3-08, mụ Khánh Lon và mấy tên chuyên lòn trôn Việt gian CS dự định tổ chức buổi nhạc hội vinh danh Thằng Cộng Sản TCS ở quận Cam Cali và vài nơi khác theo NQ 36 của Thủ tướng Việt gian CS Nguyễn tấn Dũng nhưng bị đồng bào hải ngoại cực lực phản đối, lên án bọn gia nô này. Chưa biết chúng có bãi bỏ hay vì tiền VC cho rất hậu hĩ, chúng vẫn tiếp tục liếm trôn! 

 

Lại nói ông Nguyễn sinh Cung đã hát xong, đằng hắng hai ba cái để báo cho cử tọa hay rằng xong rồi đấy, cố mà vỗ tay cho “sự nghiệp” của bác đi nhưng chẳng ai vỗ tay cả mà lại có nhiều tiếng la hét ầm ĩ:

“Đồ bán nước cho đế quốc Tàu Đỏ! Tội đáng băm vằm không biết nhục lại còn tưởng là hay. Tội của ông một ngàn lần nặng hơn tội của Lê chiêu Thống, Trần ích Tắc, hay Mạc đăng Dung tự trói mình ra hàng, ra chịu tội ở cửa Nam Quan, lậy phục xuống đất để nộp sổ điền thổ và sổ dân đinh cho Tàu, lại xin dâng đất 5 động và đem vàng bạc dâng riêng cho nhà Minh. Ông có biết không??”

 

Ông Nguyễn sinh Cung ú ớ chưa kịp trả lời thì chợt một ông trung niên, ăn mặc quần áo trây-y xanh nhà binh của Việt Nam Cộng Hòa, ra khỏi hàng xin nói. Ông Hoàng MC nhìn vào cái lon và bảng tên trên túi áo, mời:

“Vâng, xin mời  Trung tướng Nguyễn Khoa Nam, QLVNCH.”

 

Người này chính là Trung tướng Nam, xưa đã tuẫn tiết ở vùng 4 Cần thơ lúc quân của Nguyễn sinh Cung tiến vào Sàigòn nhưng vùng 4 còn rất yên tĩnh, ngoại trừ lệnh buông súng từ tên mạt tướng Dương văn Minh, đệ tử ruột của sư hổ mang CS Nằm Vùng Trí Quang. Tướng Nam dõng dạc nói:

“Thưa đồng bào, mọi người Việt Nam chúng ta, dù ở bên này hay bên kia vĩ tuyến 17 đều phải có bổn phận đối với đất nước là giữ vững sơn hà, lãnh thổ của cha ông để lại đồng thời mưu cầu hạnh phúc ấm no, tự do, dân chủ cho toàn thể đồng bào.

 

Trong 21 năm, miền Nam có những cuộc chính biến, có đệ nhất và đệ nhị Cộng Hòa nhưng quân dân cán chánh chúng tôi luôn luôn đề cao chính nghĩa QG, giữ gìn lãnh thổ, bảo vệ nhân dân khỏi bị kẻ thù khủng bố làm hại, kẻ thù ấy chính là bọn Việt gian Cộng sản mà Nguyễn sinh Cung là thủ lãnh.

 

Ngày 19-1-1974, Trung cộng đưa tầu chiến đến Hoàng Sa, Trường Sa chiếm đoạt hai quần đảo này. Hải Quân Cộng hòa miền Nam đã chiến đấu hết sức dũng cảm nhưng vì Trung cộng mang đến một lực lượng quá mạnh để nắm phấn thắng nên Hải quân Cộng hòa chúng tôi đã phải rút lui sau khi hơn 60 chiến sĩ và Sĩ quan chỉ huy yêu nước hi sinh cản bước chân xâm lược của Trung cộng.

 

Chính là Ngụy quyền CS miền Bắc VN muốn dâng hai quần đảo này cho Trung cộng nên mới tuyên bố sau đó là:

“Chẳng thà để đàn anh Trung quốc chiếm hai quần đảo ấy còn hơn là để Ngụy quyền miền Nam cai quản.”

 

Là một tướng lãnh chỉ huy quân đội miền Nam, tôi trân trọng đưa ra sự thật về hai quần đảo này để quốc dân đồng bào và lịch sử phê phán ai đúng ai sai, ai yêu nước, ai phản bội tổ quốc?

 

Sàigòn ngày ấy hàng nửa triệu dân và sinh viên, học sinh đã biểu tình phản đối sự xâm lược trắng trợn của đế quốc Đỏ Trung cộng cũng y như ngày nay dân Tây Tạng, ngày 10-3-2008 vùng lên chống lại sự đô hộ tàn bạo của Trung cộng. Ông Nguyễn văn Thiệu, Tổng Thống miền Nam lúc đó, thường bị ông Nguyễn sinh Cung và đồng bọn gọi là Việt gian đi theo Mỹ, nhưng chính ông Thiệu đã ra sức bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa nhưng đành thất thủ trước cường lực “sức yếu thành ra thiếu khôn”!

 

Quốc Hội VNCH, họp nhiều ngày sau 19-1-1974, tìm biện pháp, nhưng rồi đành đau buồn ra Tuyên cáo phản đối bọn đế quốc Trung cộng Đỏ xâm lăng, mạnh mẽ lên án Trung cộng và Việt gian CS trước quốc tế chứ không như cái gọi là Quốc Hội khóa 12 của Xã hội CN, khi Trung cộng ra văn bản hành chánh chiếm Hoàng Sa và Trường Sa ngày 3-12-2007 thì cái Cuốc Hại này câm như thóc, 500 đại biểu ăn hại đái nát không tên nào dám ho he một tiếng vì sợ mất chức, mất quyền! Ba chóp bu Mạnh, Dũng, Triết cũng câm như thóc, hơn nữa, khi đồng bào và sinh viên học sinh biểu tình đòi trả lại Hoàng Sa, Trường Sa trước tòa đại sứ Trung cộng ở Hà Nội và Lãnh sự quán ở TC ở Sàigòn thì Mạnh, Dũng, Triết lại cho công an đầu gấu dùng dùi cui, súng ngắn, lựu đạn cay giải tán họ. Cả 6 tỉ người trên hành tinh này không ai hiểu nổi! Đúng là một bọn bán nước chuyên nghiệp, bán nước có gia phả, bán nước có gene, vô địch toàn cầu!

 

Lẽ ra tôi đâu có hàng dễ dàng thế vào ngày 30-4-1975 nhưng vì kỉ luật QĐ, cấp trên của tôi là Tổng Thống Dương văn Minh ra lệnh buông súng mà tôi đành phải ra lệnh cho các chiến sĩ của tôi buông súng chứ nếu để cho tôi cùng các chiến sĩ của tôi chiến đấu đến giọt máu cuối cùng thì quân của Nguyễn sinh Cung có thắng được tôi cũng phải mất mười Sư đoàn trở lên! Dân Vùng 4 hằng thương mến chúng tôi, chúng tôi trường kì kháng chiến cho mà coi! Không dễ ăn đâu!

 

Điều kế tiếp tôi yêu cầu Sử gia Trần trong Kim hãy đọc lại đoạn sử này để đồng bào được rõ tâm địa của Mạc đăng Dung khi xưa và Nguyễn sinh Cung ngày nay!”

 

Cả rừng người vỗ tay ào ào xen lẫn tiếng huýt sáo tán thưởng câu nói. Ông Nguyễn khoa Nam trở lại chỗ cũ. Một ông già tự xưng là Sử gia Trần trọng Kim bước ra, tay cầm một quyển sách dầy. Ông chào đồng bào xong đeo kính, mở sách, đọc:

“Từ khi nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê rồi, quan nhà Lê đã có người sang cầu cứu bên Tàu xin viện binh. Vua nhà Minh đã sai quan đi đến Vân Nam cùng với quan Tuần phủ sở tại tra xét bên An-nam thực hư thế nào.

 

Quan nhà Lê sang Vân Nam kể rõ việc họ Mạc thoán nghịch. Quan nhà Minh tâu với vua xin cử binh mã sang đánh.

 

Việc định sang đánh họ Mạc không phải là vua nhà Minh có vị gì họ Lê, nhưng chẳng qua cũng muốn nhân lúc nước Nam có biến, lấy cớ mà sang làm sự chiếm giữ như khi trước sang đánh họ Hồ vậy.

 

Ta phải biết rằng phàm những việc nước nọ giao thiệp với nước kia thì thường là người ta mượn tiếng “vị nghĩa” mà làm những việc “vị lợi” mà thôi.

 

Năm Đinh Dậu (1537) vua nhà Minh bèn sai Cửu Loan làm Đô đốc, Mao bá Ôn làm Tán lý quân vụ, đem quân sang đóng gần cửa Nam quan rồi truyền hịch đi mọi nơi, hễ ai bắt được cha con Mạc đăng Dung thì thưởng cho quan tước và hai vạn bạc. Lại sai người đưa thư sang cho Mạc đăng Dung bảo phải đưa sổ ruộng đất, nhân dân sang nộp và chịu tội, thì được tha cho khỏi chết.

 

Mạc đăng Dung sai bọn Nguyễn văn Thái sang sứ nhà Minh để xin hàng.

 

Đến tháng 11 năm Canh Tí (1540), Mạc đăng Dung thấy quân nhà Minh sửa soạn sang đánh, sợ hãi quá chừng, bèn để Mạc phúc Hải ở lại giữ nước, rồi cùng với bọn Vũ như Quế, cả thảy hơn 40 người, tự trói mình ra hàng, sang chịu tội ở cửa Nam quan, lậy phục xuống đất để nộp sổ điền thổ và sổ dân đinh, lại xin dâng đất 5 động là động Té phu, động Kim Lạc, động Cổ Xung, động Liễu cát, động La phú và đất Khâm châu. Lại đem vàng bạc dâng riêng cho nhà Minh.

 

Quan nhà Minh tuy làm bộ hống hách, nói đem binh sang đánh nhưng cũng sợ phải cái vạ như mấy năm bình định ngày trước, vả lại được tiền bạc của Đăng Dung rồi, cái lòng nhiệt thành vị quốc cũng nguội đi, cho nên mới tâu với vua nhà Minh xin phong cho Mạc đăng Dung làm chức Đô thống sứ hàm quan nhị phẩm nhà Minh. Từ biến cố này, là một Sử gia, tôi nghiêm túc lên án như sau đây:

Mạc đăng Dung đã làm tôi nhà Lê mà lại giết vua để cướp lấy ngôi, ấy là một người nghịch thần; đã làm chủ một nước mà không giữ lấy bờ cõi, lại đem cắt đất mà dâng cho người, ấy là một người phản quốc. Làm ông vua mà không giữ được cái danh giá cho trọn vẹn, đến nỗi phải cởi trần ra trói mình lại, đi đến quì lạy ở trước cửa một người tướng của quân nghịch để cầu lấy cái phú quí cho một thân mình, ấy là một người không biết liêm sỉ.

 

Đối với vua là nghịch thần, đối với nước là phản quốc; đối với cách ăn ở của loài người là không có nhân phẩm; một người như thế ai mà kính phục? Cho nên dẫu có lấy được giang sơn nhà Lê, dẫu có mượn được thế nhà Minh bênh vực mặc lòng, một cái cơ nghiệp dựng lên bởi sự gian ác, hèn hạ như thế, thì không bao giờ bền chặt được. Cũng vì cớ ấy cho nên con cháu họ Lê lại trung hưng lên được.

 

Kính thưa toàn thể các bậc trưởng thượng và đồng bào,    

 

Đó là nguyên văn những gì chúng tôi đã viết trong Việt Nam Sử lược, quyển II trang 16 và 17. Nay xin đọc lại theo lời yêu cầu của Trung tướng Nguyễn Khoa Nam, Việt Nam Cộng Hòa và chư liệt vị. Tôi xin hết lời.”

 

Tiếng vỗ tay như sấm ran. Có người còn hô: “Hoan hô sử gia Trần trọng Kim”.

 

Sau khi tiếng vỗ tay đã ngớt, có một người từ trong hàng bước ra xin nói. Ông MC gật đầu.

 

“Thưa quí vị trưởng thượng và toàn thể đồng bào.

 

Tôi là Đại tá Phạm văn Sơn, một Sử gia của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, đã bị đi tù cải tạo và bị Việt gian Cộng sản giết ở trong tù. Nghe ông Trần trọng Kim đọc đoạn sử trên, tôi có cảm tưởng là những gì đã xẩy ra thời ông Mạc đăng Dung thì ngày nay, từ 1945 trở đi, lại tái diễn với ông Nguyễn sinh Cung không sai bao nhiêu, có lẽ còn nặng hơn ở mức độ nô lệ ngoại bang.

 

Trước nhất, ông Nguyễn sinh Cung dạy cả nước phải học tập: “Trung quốc với Việt Nam vừa là đồng chí, vừa là anh em, môi liền môi, răng liền răng, núi liền núi, sông liền sông” là một luận điệu ru ngủ mà Trung quốc lừa cho ông Cung và đồng bọn quên hết những cuộc xâm lăng, những năm đô hộ (cả hơn nghìn năm) để dâng đất, dâng biển cho Trung cộng là kẻ thù truyền kiếp.

 

Trung cộng tiếp tế bom đạn vũ khí cho ông Cung để ông xua người VN vào chiến trường chết thay cho lính Trung cộng với mục đích thâm độc của Trung cộng là đuổi Hoa Kỳ đi khỏi vùng Đông Nam Á, để lại một mình một chợ cho Trung cộng. Hơn nữa, khi ông Cung càng hi sinh người (đánh biển người) ở chiến trường thì Trung cộng càng có lợi. Nước VN càng ngày càng bạc nhược, yếu hèn, Trung cộng nắm dễ. Trung cộng cần phải làm sao cho bọn tư bản Đỏ càng ngày càng giầu, trái lại nhân dân càng ngày càng nghèo, tư bản Đỏ cướp hết nhà đất của dân để dân căm thù bọn chóp bu, biểu tình phản đối thì bọn chóp bu bỏ tù hết cả, sự phân hóa ấy làm cho nước VN càng ngày càng chia rẽ, như thế càng có lợi cho Trung cộng trong chính sách chia để trị.

 

Trung cộng biết rằng tuyên bố vụ Tam Sa thì Việt gian CS mất mặt nhưng Trung cộng vẫn làm để cho VC mất hết uy tín với quốc dân và quốc tế. VC không còn con đường nào khác là phải bám gót đàn anh Trung cộng để sống còn, vơ vét. Bề ngoài, Trung cộng phủ dụ VC nhưng bên trong, Trung cộng khinh VC như một lũ hủi vì Trung cộng, dù có làm điều gì xấu đi nữa cũng không bán nước, bán biển dâng đất và không làm gia nô cho ai. Nay thấy VC vô liêm sỉ, táo tợn bán biển dâng đất như thế, Trung cộng vui nhận nhưng khinh VC ra mặt. Trung cộng sẽ càng ngày càng xiết chặt gọng kìm để Bộ chính trị VC và các chóp bu không thở được, rồi phải dâng hết, bảo sao nghe vậy, và cuối cùng nước VN trở thành một tỉnh (Quảng Nam chẳng hạn) của Trung cộng.

 

Đoạn văn trên mà sử gia Trần trọng Kim vừa đọc có thể đổi tên người và năm tháng đi thì cũng hợp.

 

“Đến tháng 12-2007, bọn Việt gian CS thấy quân Trung cộng sửa soạn cướp các quần đảo và lãnh hải bèn tự trói mình ra hàng, sang chịu tội ở cửa Nam quan, lậy phục xuống đất để nộp thác Bản Giốc và ải Nam quan cùng với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Lại đem các thứ quí kim, đôla dâng riêng cho quan chức Trung cộng.

 

Nguyễn sinh Cung tuyên bố làm cách mạng nhưng cướp chính quyền từ tay nhân dân, phi chính thống. Cung đã làm chủ một nước mà không giữ lấy bờ cõi, lại đem cắt đất mà dâng cho người, ấy là một người phản quốc. Làm chủ tịch nước mà không giữ được cái danh giá cho trọn vẹn, đến nỗi phải tuân lời những tên cố vấn Tàu bắt làm những điều sai trái (như trong Cải Cách RĐ) để cầu lấy chút phú quí cho một thân mình và một nhà mình, ấy là một người không biết liêm sỉ.

 

Ông Nguyễn sinh Cung, đối với quốc tổ Hùng vương là một nghịch thần, đối với nước là một kẻ phản quốc, đối với cách ăn ở của loài người là không có nhân phẩm; một người như thế thì ai mà kính phục?

 

Cho nên dầu có lấy được cả nước, dẫu có mượn được thế Trung cộng, một cái cơ nghiệp dựng lên bởi sự gian ác hèn hạ như thế, thì không bao giờ bền chặt được. Cũng vì cớ ấy cho nên dân nước vùng lên dẹp tan đảng VGCS mang lại Độc lập, Dân chủ, ấm no, tự do, Hạnh phúc cho đồng bào. Tôi xin hết lời.”

 

Những tiếng vỗ tay lại như sấm ran. Một người đàn ông xin ra nói, ông ta xưng tên là Khái Hưng, nhà văn, đã bị ông Nguyễn sinh Cung cho thủ hạ bỏ vào bao bố với mấy cục đá trôi sông Ninh Cơ khoảng năm 1946. Ông Khái Hưng nói:

“Ông Nguyễn sinh Cung tàn ác, lẽ ra tôi phải tao mày với ông chứ ông không xứng đáng cho tôi gọi bằng nhân xưng đại danh tự ông. Vì sao? Vì ông đã trở thành con yêu tinh chuyên hút máu người dân vô tội. Vì ông là một cái quái thai ghê tởm, một súc vật dơ bẩn, bạo tàn hơn chó sói, hơn cọp beo, rắn rết, hơn bất cứ thứ gì loài người ghê tởm, tránh xa.

 

Tội bán nước của ông và đồng bọn ngày nay đã quá rõ ràng, không ai có thể phủ nhận. Ông và đồng bọn đã dâng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và vùng lãnh hải bao la thuộc về hai quần đảo này cho giặc Tàu. Công hàm do Phạm văn Đồng lúc đó là Thủ tướng nước VNDCCH kí ngày 14-9-1958 mặc nhiên công nhận hai quần đảo Hoàng, Trường Sa và phần lãnh hải quan trọng phụ thuộc hai quần đảo này là thuộc chủ quyền của Trung cộng.

 

Đó là một hành vi bán nước rõ ràng và Trung cộng, ngày 3-12-2007 đã kí văn bản hành chánh sát nhập hai quần đảo này vào huyện Tam Sa, tỉnh đảo Hải Nam.

 

Trước đó, từ 1956, sau khi chia đôi đất nước, Ung văn Khiêm, bộ trưởng Ngoại giao của chính phủ ông cũng đã kí nhiều Hiệp ước dâng biển dâng đất cho Trung cộng, theo lệnh của chính ông là chủ tịch nước VNDCCH.

 

Những bằng chứng này đã quá rõ ràng, không riêng người VN nhưng toàn cầu đều đã nhìn thấy. Khi nhân dân VN và sinh viên biểu tình phản đối Trung cộng xâm lăng thì chính Mạnh, Dũng, Triết là tay sai và con ông đã cho công an đàn áp họ. Hành động tàn bạo này càng làm rõ âm mưu bán nước của ông và tập đoàn Việt gian CS.

 

Ông Nguyễn sinh Cung! Kẻ bán nước là ông và thủ hạ của ông chưa tự xử, chưa có nghị án của toà án quốc tế, sống phây phây làm giầu trên xương máu người VN; còn tôi, tôi vô tội, tôi không từng bán nước, tôi không từng đi theo giặc Pháp, thế mà ông bỗng dưng cho thủ hạ bắt tôi tra tấn rồi bỏ bao bố trôi sông Ninh Cơ. Như thế thì có còn trời đất nào không?

 

Mà vì sao ông khát máu đồng bào đến thế?

 

Ngoài tôi, ông còn giết hàng trăm ngàn chiến sĩ Quốc gia chân chính yêu nước chỉ bởi họ, cũng như tôi, không cùng ông tôn thờ chủ nghĩa hoang tưởng Mác-Lê-Mao! Xin ông trả lời.”

 

Ông Nguyễn sinh Cung:

“Ông là nhà văn Khái Hưng? Nhà văn to lắm ông nhỉ? Nhà thơ cũng to, nhưng tôi nói thật, những quyển sách ông viết, cũng như trăm ngàn cuốn sách khác, chỉ đáng dùng làm củi chụm.

 

Năm 1954, khi tiếp thu Hà Nội, tôi đã ra lệnh cho cán bộ, công an, đoàn thanh niên CS Hồ chí Minh, các lãnh tụ Sinh viên, học sinh và cả quân đội nhân dân, tất tần tật, phải đem hết sách vở của thực dân Pháp và bọn phản động, nghĩa là những sách không do Xã hội chủ nghĩa xuất bản, đem đốt hết. Ông có biết không, ngay năm 1954 mà những sách báo phản động đã bị đốt hàng tháng không hết, đốt lai rai hoài vẫn không tuyệt nọc. Tần thủy Hoàng đốt sách mà ăn thua chi! Chưa bằng một phần ngàn chúng tôi đốt. Những cuốn sách dầy cả vài gang tay, mạ vàng, bìa cứng, những cuốn tự điển công trình cả mấy đời người, những tinh hoa kim cổ, tiểu thuyết, Thi ca, ráo hết đã vào lò thiêu.

 

Chính tôi đã đi dự một cuộc đốt sách ở trước sân Thư viện trường Viễn Đông bác cổ. Đống sách xếp ra đốt cao như đống núi mà về sau người ta bảo có những cuốn vô giá vì không còn tìm được nữa, vì chỉ còn 1 cuốn duy nhất. Nhưng tôi và các anh em sinh viên không lí tới điều đó, trừ phi cuốn sách là vàng thiệt thì mới giữ lại.

 

Suy thế, sách của ông chẳng đáng để tôi đọc cái nhan đề. Đốt hết là phải lắm rồi.

Còn cái mạng của ông? Sách đã thế thì người còn có giá trị gì? Chúng tôi nghi ngờ ông làm tay sai cho thực dân Pháp nên chúng tôi giết. Giết ngưòi thường, không nổi tiếng, không làm toàn dân sợ, mà giết người tài, có tiếng tăm như ông mới làm rúng động nhân tâm, ông hiểu chưa? Ông chết trôi sông như thế còn là mát mẻ chứ có những kẻ chúng tôi chôn sống, chỉ thò cái đầu lên, giở sống giở chết, cho trâu cày bừa vào đầu, nát sọ mà vẫn ngắc ngoải. Thế mới đáng sợ!”

 

Ông Khái Hưng:

“Ông Nguyễn sinh Cung, nhân loại có lẽ không đủ từ ngữ để mô tả cái độc ác, tàn bạo của ông và đảng ông! Tôi rất tiếc Thượng Đế đã cho tôi sinh ra làm kiếp người VN.”

 

Nhiều người ào ào la lên:

“Phải đấy, chúng tôi phải khiếu nại lên tới Ngọc hoàng Thượng đế vì đã đày đọa chúng tôi làm kiếp người Việt, sinh cùng trong cái thế kỉ với ông Nguyễn sinh Cung, một kẻ chẳng nên được sinh ra ở  cõi đời này. Ông đã làm cho Việt Nam trở nên chốn gió tanh mưa máu, chốn anh em một nhà chém giết nhau mà rốt cuộc cả dân tộc bại hoại vì cái chủ nghĩa sai lầm, hoang tưởng, đểu cáng, phi luân ông đem nhập vào nước Việt. Ngày nay, từ trong nước cho đến hải ngoại, người Việt vô cùng chia rẽ, giầu nghèo chia rẽ, chức quyền với dân thường chia rẽ, trong đảng CS, một đảng duy nhất: chia rẽ; người Việt ở hải ngoại sinh ra đủ thứ nhóm chính trị, cũng chia rẽ; mầm chia rẽ từ ông làm cho tình nghĩa anh em, huynh đệ một nhà không còn, chỉ nhăm nhăm chém giết nhau và lấy làm thỏa mãn. Từ khi ông xuất hiện ông đã làm cho nước VN biến chất, đạo lí đi đong, nhân tình lụn bại, người Việt trong nước ngày nay chỉ còn biết có hưởng thụ, đảng gọi dạ, bảo vâng, phụ nữ đi bán trôn nuôi miệng, thanh niên lao động xuất khẩu suốt đời nô lệ ngay cho những kẻ xưa kia thua kém mình rất xa như Mã lai Á, Hàn quốc v.v…Thật là một cái nhục, một sự thoát xác để trở lại thời đồ đá, một xã hội đảo điên, bát nháo, mạnh kẻ nào kẻ ấy vơ vét làm tiền; mạng người thua mạng heo, chó. ”

 

Giọng một người đàn bà:

“Tôi là Nguyễn thị Thanh, vừa nãy đã nói rồi, tôi là chị ruột ông Nguyễn sinh Cung. Tôi xin nhắc lại ý kiến lúc nãy, giá tôi biết thế này, hồi ông ta còn nhỏ, tôi bóp mũi cho ông ta chết đi để đỡ cái tai họa nghìn năm cho dân tộc.

 

Cha mẹ tôi cũng không muốn thừa nhận ông ta dù ông ta cho thủ hạ xây lăng hai cha mẹ tôi kĩ lưỡng lắm. Có người nói rằng, hai cái lăng cho cha và mẹ tôi, khánh thành được mấy ngày thì ban đêm có kẻ lấy cứt trát cùng khắp trên hai cái y như những cái lăng của các thằng Phạm văn Đồng, Lê Duẩn, Lê đức Thọ, Mai chí Thọ, Trường Chinh v.v…cũng bị trét cứt. Chúng đã gây ra quá nhiều tội ác, bây giờ có đổ cả thuyền phân lấp kín mả đi thì cũng chẳng lấy lại được cái gì.

 

Cái nhục là bà ngoại tôi đã dăng dện với ông Hồ sĩ Tạo đẻ ra cha tôi tức Nguyễn sinh Sắc, lấy họ của chồng mẹ chứ cái ông họ Nguyễn đó không phải là ông nội chúng tôi mà chính là Hồ sĩ Tạo.

 

Đứa con ngoại tình là cha tôi, tri huyện Nguyễn sinh Sắc, đẻ ra anh tôi, Nguyễn sinh Khiêm, hai em tôi Nguyễn sinh Xin và Nguyễn sinh Cung và tôi, Nguyễn thị Thanh. Tôi thực không hiểu do tiền oan nghiệp chướng nào mà cha mẹ chúng tôi, Nguyễn sinh Sắc và Hoàng kim Loan,  lại đẻ ra Nguyễn sinh Cung, một con quái vật, một quỉ vương thời đại như thế!”

 

Nguyễn sinh Cung ngồi nghe tức giận cành hông:

“Bây giờ mấy người cậy có công lí, pháp luật nhà trời đua nhau thóa mạ tôi đấy phải chăng? Chuyện xưa như trái đất vẫn cứ lôi ra, hay thật. Sao hồi tôi còn sống không đứng ngay giữa Hà Nội hay hang Pắc Pó mà nói? Chỉ một búa vào ót như cô Nông thị Xuân là êm hết. Tôi giải quyết vụ việc rất nhanh rất gọn.

 

Tôi thích cách giải quyết của đồng chí Phùng thế Tài.

 

Hơn hai trăm sinh viên Hà Nội phản đối việc đăng kí đi lính Sinh Bắc tử Nam, có đứa đã trốn, đồng chí Tài vô cùng tức giận nhưng nhẫn nhịn phủ dụ cho về hết, hứa là sẽ cứu xét nguyện vọng và khoan hồng. Chúng tưởng bở vào trình diện không thiếu một thằng. Đồng chí Tài cho xe chở chúng ra bờ sông, bắt xếp bốn hàng dọc, đứng nghiêm nghe đọc bản án chung cho tất cả: tử hình. Sau đó một tiếng hô của đồng chí Tài, bốn khẩu trung liên đã sẵn sàng bắt đầu nhả đạn. Từng thằng, từng thằng gục ngã như người ta đẫn chuối. Máu thấm đỏ một quãng đê!

 

Phản động phải giải quyết bằng cách đó. Tôi thăng cấp tướng cho đồng chí Tài và bắt Ban Tuyên Huấn viết bài về “sự cố” ấy cho toàn quân, toàn dân học tập thật kĩ. Phản động sẽ bị trừng trị như thế đó!

 

Đồng bào biết vì sao tôi phải độc tài? Giả sử 200 mạng ngã xuống đó là 200 con chó hay con lợn thì quá hay. Tôi sẽ bảo chia cho mỗi đại đội một con ăn cho lên tinh thần mà đánh biển người. Đàng này 200 cái thây thối của bọn phản động, phải gọi thân nhân đến lãnh xác về chôn gấp. Coi đó, người thua chó xa!”

 

Bỗng phía ngoài có những tiếng la hét, tiếng người ồn ào, tiếng chân chạy rầm rập. Những tiếng nói từ trong hàng:

“Tibet! Dân Tây Tạng! Các nhà sư Tây Tạng trời đất ạ!”

Có những tiếng hỏi:

“Vì sao họ bị giết?”

“Vì họ không chịu nổi ách thống trị hà khắc của Trung cộng nên  vùng dậy đòi độc lập và tự trị.”

 

Một người đàn ông đứng ra xin nói:

“Thưa toàn thể quí vị và đồng bào, tôi là Nguyễn văn Linh, nguyên Tổng bí thư đảng CS và Chủ tịch nước VNDCCH. Tôi xin cải chánh điều có người vừa nói. Nước Tây Tạng rất nhỏ bé so với siêu cường vĩ đại là nước Trung cộng thì cũng ví như con châu chấu đá cái bánh xe bò mà thôi. Nước Tây Tạng với dăm, bảy triệu dân, lãnh thổ nhỏ xíu toàn ở trên núi, được nước Trung cộng vĩ đại bảo hộ là điều quá may mắn lại không biết điều, giở giói ra bị thiên triều cho quân lính giết là quá phải.

 

Ngay như nước Việt Nam, dân số gấp cả chục lần Tây Tạng, lãnh thổ cũng vậy mà chủ tịch Hồ chí Minh cùng tôi bàn luận là trước sau phải nằm dưới ô dù của thiên triều mới xong. Vì vậy ngày 14-9-1958, thừa lệnh Hồ chủ tịch, Thủ tướng Phạm văn Đồng đã kí Công hàm thừa nhận quyền bất khả xâm phạm của Trung quốc vĩ đại trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bởi chúng tôi biết rất rõ, không nộp trước cũng phải nộp  sau, không đi đâu mà chạy được. Hoàng Sa, Trường Sa là điểm chiến lược bởi chỉ cần một đài ra đa đặt trên đảo là có thể kiểm soát được hết tất cả thuyền bè qua lại eo biển Malacca.

 

Hồ cẩm Đào chủ tịch tại Bắc Kinh đã nhắm cả rồi. Trước đây khoảng mấy năm , nguyên chủ tịch nước CHNDTH Giang trạch Dân  đã sang tắm ở bãi biển Tiên Sa, Đà nẵng. Ý ngài chủ tịch vĩ đại là, bãi biển này của nước Trung Hoa thì ngài ra tắm tự nhiên, khỏi cần hỏi han lôi thôi. Tất cả lãnh tụ trong Bắc bộ phủ đều là con cháu của ngài. Rồi mai mốt đây, dân VN mình phải vào trong động, trong núi mà ở nhường đồng bằng cho Hán tộc sang sinh con đẻ cháu tràn lan, tiếng nói chính thức sẽ là tiếng Bắc kinh cho mà coi. Họ đã chuẩn bị sẵn nên giờ này sự cố, chất lượng, khẩn trương, tham quan, bức xúc, triển khai, cảnh giác, khả năng…cứ thế nằm lòng bởi những từ này là do tiếng Hán mà ra cả. Ít chục năm nữa thì văn tự, tiếng nói của VN đã hoàn toàn lai căng hoặc mất hết dấu tích để chỉ còn Hán tự, Hán hóa mà thôi! Dù tôi đi theo ông Nguyễn sinh Cung nhưng sau khi xuống ngục A tì này, tôi đã giác ngộ, tôi phải nói những gì là chân thật chứ không dám gian dối như khi còn ở Hà Nội bởi Thượng Đế đã dạy cho tôi một bài học ngay thật ở đời.”

 

 Bút Xuân TRẦN CÔNG TỬ  

http://www.hon-viet.co.uk/TranDinhNgoc_HoChoMinh_MacDangDungTheKy20.htm

 

 

 

Advertisements

July 14, 2008 - Posted by | Uncategorized | , ,

1 Comment »

  1. […] HỒ CHÍ MINH, MẠC ĐĂNG DUNG THẾ KỶ 20 […]

    Pingback by Mục Lục « Danchutudo’s Weblog | October 3, 2008 | Reply


Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: