Tieudietvietcong's Blog

Freedom, Democracy, Human Rights, No Communism For Vietnam

Kẻ nói phét nhất hải ngoại hiện nay là ai? (I)

Kẻ nói phét nhất hải ngoại hiện nay là ai?

(I)

 

Việt Thường – Nam Nhân – Lý Tuấn

 

 

Như lời giới thiệu của hãng thông tấn VNN (trụ sở tại Mỹ), vì muốn biết: “Những suy tư cảm xúc thực sự của đồng bào miền Bắc Xã hội chủ nghĩa lúc ấy” về “Hiệp định Genève 1954 chia đôi đất nước đưa tới cuộc Di cư vĩ đại của hơn một triệu đồng bào miền Bắc vào Nam”. Nên, lời giới thiệu cũng viết rằng:… “hãng thông tấn VNN rất hân hạnh được tác giả “Đêm giữa ban ngày” dành cho một cuộc phỏng vấn đặc biệt sau đây do phóng viên Võ triều Sơn thực hiện.”

 

   Cuộc phỏng vấn đúng là đặc biệt thật. Vì cái thuở ấy – tức 1954 – làm gì có cái gọi là “đồng bào miền Bắc xã hội chủ nghĩa”(?!!!)

 

   Rừng rú, nông thôn của miền Bắc Việt Nam phần lớn do các cố vấn Nga-xô – Lavritsép (đại sứ đặc mệnh toàn quyền) và cố vấn Tàu cộng – tướng La quý Ba (đại sứ đặc mệnh toàn quyền) giúp đỡ, chỉ đạo bộ máy quan lại đỏ địa phương, do tập đoàn Hồ chí Minh cầm đầu và cai trị, dưới cái tên thể chế chính trị là Việt Nam Dân chủ Công hòa!

 

   Nhân dân ở thành phố, thị trấn và một phần nhỏ nông thôn gần các tỉnh, thành ở miền Bắc khi ấy, sống dưới chế độ “Quốc gia” do Quốc trưởng Bảo Đại chỉ đạo, có sự hỗ trợ của quân Pháp. Bộ máy công quyền của những vùng này đã được thực dân Pháp trao lại cho chính quyền Bảo Đại. Về mặt quân sự, quân đội Quốc gia Việt Nam cũng đang được xây dựng và phát triển cùng lúc với lực lượng Cảnh sát quốc gia và v.v…

 

   Hiệp định Genève 1954 về Việt Nam được ký xong, nhưng tận trưa 10-10-1954, binh lính của tập đoàn Hồ chí Minh mới hoàn thành cuộc chiếm đóng Hà-nội. Người dân Hà-nội được nghe “mệnh lệnh” đầu tiên của cái gọi là Uỷ ban Quân quản với thiếu tướng Vương thừa Vũ làm chủ tịch và phó chủ tịch là bác sỹ Trần duy Hưng.

 

   Khái quát mà nói thì ít nhất ở miền Bắc Việt Nam lúc ấy có hai thành phần:

   1) Những người đã và đang sống dưới sự đô hộ của tập đoàn Hồ chí Minh và các cố vấn Nga-xô, Tàu cộng.

   2) Những người chỉ biết cái chế độ mà mình sẽ phải ráng chịu đựng trong hai năm (như quy định trong hiệp định Genève 1954 về Việt Nam) qua hình ảnh những người lính đội nón lá hình cối; đồng phục màu cỏ úa – lính áo hai túi, sỹ quan áo bốn túi. Nghĩa là y như một đoàn lính Tàu cộng nói sõi tiếng Việt, không biết nói tiếng Tàu (tất nhiên một số nào đó học từ Tàu cộng về thì nói được tiếng Tàu). Tất cả đi giày vải hoặc dép lốp, trông ốm yếu, đói ăn, vẻ mặt hơi thiếu tự tin, ngơ ngác như bị pháp sư thu mất vài vía!

 

   Ai ở Hà-nội thì có thể thấy thêm “đoàn quay phim” Việt Nam dân chủ công hòa lúc ấy, trú đóng tại khách sạn Splendide, tọa lạc đầu ngã tư Ngô Quyền – Lý Thường Kiệt, có vài người Nga và Ba-lan tham gia trong đoàn. Đây là điển hình của cộng sản sau này: bắng nhắng, mất gốc, cứ tưởng cóc có thể lớn bằng bò! Trừ một vài người mặc quân phục mới còn nếp, mũ cối che vải dù có lưới (để cài lá ngụy trang), số còn lại mặc như học sinh, chỉ khác quần ống quá rộng, đầu đội mũ vải trắng (kiểu mũ của trẻ học vỡ lòng), các máy quay phim cổ lỗ như khẩu bích-kích-pháo, cười nói hô hố, thỉnh thoảng lại chêm mấy tiếng Nga: “Nhiét, nhiét”, “Kha-rát-sô”, “Ta-va-ritch”… khi nhìn thấy mấy tà áo dài yểu điệu đạp xe qua là cả bọn trố mắt nhìn như “đàn ốc nhồi bò ra khỏi chậu”” (Sau 30-4-1975, hình ảnh này cũng lặp lại ở Sài-gòn, có khác là ở trước khách sạn Caravelle trên đường Tự Do).

 

   Vũ thư Hiên là một trong cái “trố mắt” đó. Thử hỏi, những câu trả lời phỏng vấn của Vũ thư Hiên có thể nào đại diện cho suy tư và cảm xúc thực sự của người miền Bắc lúc ấy không?

 

   Câu trả lời đầu tiên của Vũ thư Hiên đã mơ hồ rồi. Vũ thư Hiên nói:

   “Và nếu hiểu cho công bằng thì kẻ thắng ở Điện-biên-phủ cũng không phải là những người cộng sản Việt Nam, như những người cộng sản tự hào viết trong lịch sử đảng của họ. Kẻ thắng ở Điện-biên-phủ là toàn dân Việt Nam.”

   Xin quý bạn đọc đừng tưởng Vũ thư Hiên phủ định công của “cộng sản”; và cũng đừng tưởng Vũ thư Hiên đề cao “toàn dân Việt Nam”!!! Những phần trả lời ở dưới, Vũ thư Hiên đã tuyên dương công trạng cho các tướng tá cộng sản, thí dụ như về Đặng kim Giang và Võ nguyên Giáp:

   Hào quang của chiến thắng Điện-biên-phủ và tính cách nhũn nhặn vô song trước các đồng chí đối thủ đã cứu tướng Giáp. Tướng Đặng kim Giang, người đã tổ chức công việc hậu cần to lớn có ý nghĩa quyết định trong chiến thắng Điện-biên-phủ, thì không được như thế.”

 

   Vũ thư Hiên, vì chủ yếu nói cho người Việt tỵ nạn cộng sản nghe, đọc, nên “mánh khóe” và “láu lỉnh” tách “công lao” của “toàn dân Việt Nam” riêng ra, và công lao của “những người cộng sản Việt Nam” riêng ra mà thôi.

 

*****

 

    Sau cái ngu ngơ để mừng và tự hào về cái gọi là “chiến thắng Điện-biên-phủ”, nhân dân miền Bắc Việt Nam được nếm mùi vị các cuộc “cách mạng long trời lở đất” do tập đoàn Hồ chí Minh thực thi, dưới sự chỉ đạo của các cố vấn Tàu công – Nga-xô, mà thực chất là: “Trí, phú, địa, hàoĐào tận gốc, trốc tận rễ” được mạ kền bằng các mỹ tự:

   * Giảm tô, giảm tức; cải cách ruộng đất (diệt địa);

   * Chỉnh đốn tổ chức; chỉnh huấn mùa xuân; ôn nghèo nhớ khổ (diệt hào);

   * Cách mạng văn hóa tư tưởng; đấu tranh chống Nhân văn – Giai phẩm (diệt trí);

   * Cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh (diệt phú).

 

   Kể từ đó, chỉ có tập đoàn Hồ chí Minh là nhớ, tự hào và tổ chức mừng chiến thắng Điện-biên-phủ hàng năm. Còn nhân dân, nhất là sau các đợt hợp tác hóa ở cả nông thôn và thành thị, tất cả đều thành nô lệ đỏ (đặc thù nô lệ dưới sự đô hộ của Nga-xô – Tàu cộng, trong bối cảnh Liên-hiệp-quốc xóa bỏ chủ nghĩa thực dân (1958) trên toàn thế giới).

 

   Vì thế nhân dân bị tước hết tài sản và tất cả mọi quyền tự do. Chỉ còn quyền lao động, hy sinh, ca ngợi, phục tùng tuyệt đối các mẫu quốc Nga-xô – Tàu cộng và các lãnh tụ của chúng; đảng Lao động Việt Nam (tức cộng sản VN), “bác Hồ” và lũ tà-lọt của hắn được gọi là “lãnh tụ” hay “lãnh đạo” (tức ban chấp hành trung ương cộng sản).

 

   Cho nên suy tư và cảm xúc thực sự” của nhân dân miền Bắc Việt Nam là Genève hay Điện-biên-phủ cũng chẳng có gì khác lạ với những cái tên như Paris, London; Mường-tê, Xi-ma-cai, Ba-vì v.v… Cái Điện-biên nằm trong lòng miền Bắc Việt Nam là thuốc lá Điện-biên bao bạc đối với dân hút mà thôi, chứ không phải “chiến thắng Điện-biên”.

   Cái ma giáo của “phóng viên báo ảnh, bậc 3/6”; của “nhà văn xuất hiện trên “văng” đàn từ đầu thập niên 50”; của “một người không làm chính trị” – nhưng đi đâu cũng nói về chính trị còn… hơn người làm chính trị vì đang tìm thể chế chính trị thích hợp cho Việt Nam là Vũ thư Hiên mới khẳng định:

 

 

Kẻ thắng ở Điện-biên-phủ là toàn dân Việt Nam. (!!!)

 

   Chỉ khi nào Vũ thư Hiên khẳng định rằng tập đoàn cộng sản Việt Nam không nằm trong phạm trù nhân dân Việt Nam; thừa nhận trên thực tế đó là tập hợp của những tên Việt gian theo Nga-xô hoặc theo Tàu cộng thì mới được coi là thẳng thắn. Nếu không, đây chỉ là thủ đoạn của một kẻ nảy nòi từ chính sách trồng người của Hồ chí Minh, vì Vũ thư Hiên vẫn có thể giải thích rằng “người cộng sản Việt Nam cũng là người Việt Nam”.

 

   Tập đoàn Hồ chí Minh làm xiếc chữ nghĩa để lừa người lương thiện. Vũ thư Hiên từng ngủ chung với Hồ (như Hiên khoe), đương nhiên học được ít ngón nghề, vì thế đã qua mặt phóng viên VNN để thêm tiếng cũng và lắt léo dài dòng.

   Đoạn văn: “Và nếu hiểu cho công bằng thì kẻ thắng ở Điện-biên-phủ cũng không phải là những người cộng sản Việt Nam.” Tiếng cũng trong đoạn văn trên khiến suy tư của Vũ thư Hiên y chang tập đoàn Hồ chí Minh.

 

   Thêm tiếng cũng có nghĩa là: kẻ thắng ở Điện-biên-phủ cũng không phải là những người cộng sản Việt Nam, còn có nhân dân nữa.

 

   Không nắm được ót của những tên do chính sách trồng người của Hồ đẻ ra, dễ bị lừa mà tưởng rằng Vũ thư Hiên, một “nhà văn hồi ký” của cộng sản, phản tỉnh, đã phủ định cộng sản Việt Nam trong cái gọi là “chiến thắng Điện-biên-phủ”!!!

 

   Khi nói đến cái gọi là “chiến thắng Điện-biên-phủ”, bọn đầu nậu cộng sản qua các thời “tổng bí thư” đều nói rằng “toàn dân, toàn quân dưới sự lãnh đạo của đảng và Hồ chủ tịch đã làm nên chiến thắng Điện-biên-phủ vẻ vang, anh hùng.”

 

   Vũ thư Hiên chỉ “láu lỉnh” trong trò làm xiếc chữ nghĩa tý chút, hy vọng có thể làm cho cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản và các thế hệ sau sẽ coi chiến thắng Điện-biên-phủ là của toàn dân Việt Nam, để từ đó hàng năm làm lễ kỷ niệm, tưởng niệm v.v… mà trước mắt là quên cái gốc con nuôi của thanh tra mật thám thực dân là Marty của Võ nguyên Giáp, quên tội ác của Giáp đã hỗ trợ đắc lực cho Hồ trong việc:

   – Lèo lái đổi danh xưng quân đội hợp nhất của các đảng phái mang tên Quân đội Quốc gia với tôn chỉ “Trung với nước, hiếu với dân” thành “quân đội nhân dân” hay “bộ đội cụ Hồ” với tôn chỉ: “Trung với đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” (tức là kẻ thù của Đảng cộng).

 

   – Khi đổi danh xưngtôn chỉ, lực lượng vũ trang trong tay tổng tư lệnh Võ nguyên Giáp trở thành công cụ chuyên chính của Hồ – mà cũng là của Nga-xô và Tàu cộng. Vì thế cái gọi là “quân đội nhân dân” hay “bộ đội cụ Hồ” mới đủ tàn bạo hơn cả lính Tàu xưa kia, lính thực dân Pháp, lính phát-xít Nhật để bắn giết nhân dân Việt Nam như vụ Ba-làng (1957); giết đồng bào người Mèo ở Hà-giang (1960) (hơn 2 vạn vì theo đạo Tin lành); giết nhân dân Huế (1968); pháo kích vào các trường học, nhà thờ, đền chùa, cơ sở kinh tế, bệnh viện v.v… trong suốt cuộc chiến xâm lược VNCH (vì quyền lợi và chiến lược bá quyền đỏ Nga-xô – Tàu cộng). Nói tàn bạo hơn vì Tàu, Nhật, Pháp không phải người Việt (nghĩa là đồng bào).

 

   Gần đây nhất, cái “quân đội nhân dân” đó của Võ nguyên Giáp đã tàn bạo tàn sát nhân dân Tây-nguyên theo đạo Tin lành.

 

   Vì thế, trước hết nhân dân Việt Nam, ở trong và ngoài nước, cần thiết tìm hiểu lại ngọn ngành lịch sử cận đại để nhận diện cho đúng ai là kẻ thắng của cái gọi là “chiến thắng Điện-biên-phủ”“Hiệp định Genève 1954 về Việt Nam”?

 

   Những suy tư và cảm xúc thực sự mà Vũ thư Hiên trả lời phỏng vấn phóng viên Võ triều Sơn của thông VNN không thể và không bao giờ có thể chứa đựng một chút nào đó suy tư và cảm xúc thực của “đồng bào miền Bắc Xã hội chủ nghĩa lúc ấy” như ông Võ triều Sơn có thể đã ngộ nhận.

 

   Suy tư và cảm xúc thực sự của Vũ thư Hiên hoàn toàn ăn khớp với Hồ chí Minh và các đệ tử, cũng như trùng hợp với các nhà “dân chủ cuội” Bùi Tín, Trần Khuê, Trần dũng Tiến, Nguyễn thanh Giang v.v…

 

   Câu hỏi đặt ra: Vậy ai là kẻ chiến thắng?

 

   Xin thưa, đó là:

1) Đế quốc đỏ Nga-xô:

   Năm 1930, khi ra lệnh Hồ chí Minh lập ra cái gọi là “đảng cộng sản Đông-dương” thì cái tổ chức Việt gian đó còn trốn chui trốn lủi. Bản thân Hồ, cao nhất là ăn, ngủ tại Pắc-bó (Cao-bằng), lén lút đặt tên con suối trước hang là Lê-nin, và tạc tượng Kác-marx, ôm cô bé đưa cơm người Tày.

 

   Nhờ thắng ở trận Điện-biên nên đế quốc đỏ Nga-xô thực tế đã làm chủ một phần đất và dân quan trọng của Đông-dương: toàn bộ miền Bắc Việt Nam từ vỹ tuyến 17 trở ra.

   Núp dưới danh xưng “đại sứ đặc mệnh toàn quyền”, toàn quyền Nga-xô là Lavritsep chiếm toàn bộ trường nữ trung học Félix Faure với các khu phố đẹp nhất của Hà-nội, đồng thời cho xây khu Kim-liên (Hà-nội) để gia đình các quan thực dân đỏ cư ngụ. các tỉnh, huyện cho xây nhà phục vụ đặc biệt đặt tên là Nhà giao tế.

 

   Công viên đẹp nhất Hà-nội được đổi tên thành công viên Lê-nin và tượng Lê-nin được thay vào chỗ tượng toàn quyền thực dân Pháp ở Đông-dương là Paulbert (bị bác sĩ Trần văn Lai, thị trưởng Hà-nội thời chính phủ Trần Trọng Kimà-nội thời chính phủ Trần Trọng Kim  cho giật đổ, đánh dấu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam).

 

   Tượng Lê-nin to đẹp hơn, thế vào chỗ tượng Paulbert là biểu tượng trên miền Bắc Việt Nam, chủ nghĩa thực dân đỏ đã thay thế thực dân Pháp.

 

   Miền Bắc Việt Nam trở thành điểm chiến lược cả về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa giáo dục để tiếp tục chiến lược bành trướng bá quyền của Nga-xô và để ngăn chặn đối thủ bá quyền là Tàu cộng.

 

2) Tàu cộng hay Anh Hai trong lãnh địa thực dân đỏ:

   Qua cái gọi là Hiệp định Genève 1954 về Việt Nam, hình ảnh “Trung cộng của Mao” được công khai hóa ở phương Tây, với Chu ân Lai, trong cái áo dài của Lỗ Tấn.

 

   Xương máu của nhân dân Triều Tiên và của nhân dân Việt Nam làm cho hình ảnh “Tàu Mao” có một vị trí đáng ngại còn hơn sự tô vẽ của ký giả Pháp – Claude Roy – trong cuốn “Clef pour la Chine” (Chìa khóa về Trung quốc).

 

   Tướng La quý Ba của Tàu cộng, từng có mặt ở Việt Nam, từ cái gọi là “Chiến dịch biên giới 1950” để trực tiếp truyền đạt mệnh lệnh của Mao cho tên Hồ Việt gian, nay trở thành phó toàn quyền thực dân đỏ ở Việt Nam, núp dưới danh xưng “đại sứ đặc mệnh toàn quyền” của Tàu cộng. Hắn chiếm dinh Thủ hiến Bắc Việt Nam xưa kia cùng một loạt vi-la sang trọng trên đường Quan-Thánh (Hà-nội).

 

   Tập đoàn Hồ chí Minh, khi vào Hà-nội, vội vã dâng cho Nga-xô trường nữ trung học Félix Faure. Chúng có thể xóa sổ các trường trung học Notre Dame du Rosaire, làm văn phòng Bộ tài chính; trường trung học Albert Sarraut thành văn phòng trung ương của đảng Việt gian “Lao động Việt Nam”; các trường nữ trung học Sainte Marie và Saint Paul cũng bị xóa sổ. Trường Bưởi – trường trung học nổi tiếng nhất Đông-dương – bị lấy làm doanh trại của lính lê-dương cộng sản.

 

 

Thế nhưng trường trung học Trung-hoa vẫn được giữ nguyên xi!!!

 

   vị trí “Phó toàn quyền”, Tàu cộng đã biến Việt Nam thành “bãi thải công nghiệp và ve chai”. Tàu cộng nhân viện trợ mới từ Nga-xô, còn các đồ phế thải, máy móc cũ cho chuyển qua Việt Nam. Những nhà máy sắt, thép Thái-nguyên; nhà máy phân đạm Bắc-giang; khu công nghiệp Việt-trì v.v… là những ví dụ cụ thể.

 

   Báo Nhân dân, được coi là cơ quan của cái gọi là “đảng lao động Việt nam”, từ trang nhất cho đến các trang trong phải được phân chia ngang bằng cho việc đăng tin từ “Phủ toàn quyền” (tức đại sứ Nga-xô) và “Phủ phó toàn quyền” (tức đại sứ Tàu cộng).

 

   miền Bắc Việt Nam lúc ấy, ảnh Mao cùng bộ hạ như Lưu thiếu Kỳ, Chu ân Lai, Chu Đức, Lâm Bưu, Bành đức Hoài, Trần Nghị, Đặng tiểu Bình v.v… nằm không chỉ ở nhà dân thường mà bắt buộc phải có ở các trụ sở hành chính từ xã lên đến trung ương.

   Sau này, cũng khởi đầu từ cái gọi là “chiến thắng Điện-biên-phủ” mà giáo sư tiến sỹ Kít (Kissinger) phải le te sang Tàu để bố trí cuộc gặp mặt của Nixon với Mao ở Thượng-hải!!! Vì đã hoàn thành việc chia rẽ Nga-xô và Tàu cộng.

 

3) Những kẻ cuối cùng thắng trong cái gọi “chiến dịch Điện-biên-phủ” là:

   a) Con nòng nọc Gaulois đã rụng cái đuôi thực dân để thành con cóc dân chủ, nhảy ra khỏi đầm lầy tội lỗi xâm chiếm thuộc địa.

   b) Hồ chí Minh được chính thức ngự tọa trong Biệt điện của Quốc trưởng Bảo Đại ở Hà-nội (xưa là phủ toàn quyền Đông-dương). Tên tội phạm bán nước cho thực dân đỏ; bán cụ Phan Bội Châu, bán cuộc khởi nghĩa của anh hùng liệt sỹ Nguyễn Thái Học và v.v… tự thưởng cho bản thân một người con gái, trẻ hơn cháu nội của hắn, để thỏa mãn sự trụy lạc. Cô gái đó là Nông thị Xuân.

 

   Lầu đài, gái trẻ, xe hơi bọc thép, máy bay trực thăng, máy bay du lịch vẫn chưa đủ. Hồ còn cho làm nhà sàn; dựng lễ đài, xây ao cá v.v… cùng lúc lo cho hậu sự, nghĩa là lăng tẩm, tượng đài của hắn!

 

   Từ đó, những nền tảng nói láo trong sách của Trần dân Tiên (bút danh của Hồ), được bộ máy văn nô, trí nô cung đình của Hồ tô màu, phóng đại, kết hợp với việc đánh bóng tay sai đắc lực để làm mồi dụ khị các tay sai khác, Nga-xô và Tàu cộng đã tô vẽ lại tên hề chính trị Hồ chí Minh thành một thứ “anh hùng mẫu” của thời đại.

 

   Thế là mấy anh chính khách theo đường lối nhuôm nhoam – không ra đen, không ra trắng – như kiểu Nê-ru, Nasser, Sukarno (Nam dương), Boumédienne (Algérie), Lumumba (Congo), Xi-ha-núc… cũng ra công tâng bốc lẫn nhau.

 

   Trong cái thế giới hỗn mang đó, thiện ác lẫn lộn, thực giả khó phân. Đúng là kiếp nạn cho người hiền lương!

 

   Núp dưới những hắc quang ma quỷ đó, Hồ và tay chân như lũ Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm văn Đồng, Phạm Hùng, Võ nguyên Giáp, Nguyễn chí Thanh, Lê đức Thọ, Trần quốc Hoàn, Tố Hữu v.v… chỉ đạo bần cùngnô lệ hóa cùng tẩy não toàn dân (phía Bắc VN).

 

   Đồng ruộng, núi non, sông biển và toàn dân đều là tài sản của Hồ – cũng có nghĩa của mẫu quốc đỏ Nga-xô – Tàu cộng.

   Nhờ làm chủ tuyệt đối cả thân xác (bần cùng hóa) và tâm hồn (tẩy não); Hồ và chân tay tiếp tục lộ trình mà mẫu quốc đỏ Nga-xô đã giao trách nhiệm cho hắn từ 1930 – việc ra đời của cái gọi là “đảng cộng sản Đông-dương”. Đó là: Tiến hành nhuộm đỏ Đông-dương mà trước hết là VNCH, núp dưới chiêu bài “giải phóng” bằng nô lệ Bắc Việt Nam cùng vũ khí và sự ủng hộ tuyệt đối về chính trị, ngoại giao, tuyên truyền của Nga-xô – Tàu cộng cùng chư hầu và các đảng tay sai trên phạm vi toàn thế giới.

 

   Chính là “Điện-biên-phủ” đã thành điểm tựa cho bộ máy tuyên truyền khổng lồ của Nga-xô – Tàu cộng, tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh, các đảng phái tay sai của Nga-xô – Tàu cộng; các nghệ sỹ, nhà văn, nhà báo, học giả, chính khách… như những mạt cưa sắt, trong từ trường của sự xuyên tạc, đã định hướng giống nhau. Họ bị bội thực thông tin giả để vô thức góp phần tạo ra một loạt thông tin giả khác; phong phú hóa cho thông tin giả của “đế quốc đỏ”, mơ hồ hóa đầu óc, nhận thức của nhiều người về con người Việt gian Hồ chí Minh (từ 1925); về sự thay đổi màu sắc của chủ nghĩa thực dân ở Việt Nam:

   – Chủ nghĩa thực dân Pháp (tức xanh) chấm dứt khi chúng phải ký với Cựu hoàng Bảo Đại, trả lại Việt Nam cho chính phủ quốc gia, mà tượng trưng là Quốc kỳ nền Vàng Ba sọc đỏ, vào năm 1948;

   – Chủ nghĩa thực dân đỏ (Nga-xô – Tàu cộng) bước vào lãnh thổ Việt Nam từ cuối 1950 – tức chiến dịch biên giới. Và, cuối 1951, khi tập đoàn Việt gian Hồ chí Minh, được Nga-xô thành lập từ tháng 2-1930, mang tên “đảng cộng sản Đông-dương”; xin tự giải tán năm 1946 để giấu bộ mặt Việt gian đỏ, nhằm hội nhập dễ dàng vào các đoàn thể quần chúng, tổ chức chính trị, lực lượng vũ trang, chờ dịp tiếm quyền lãnh đạo.

 

   Nhiệm vụ mà Nga-xô trao cho “đảng cộng sản Đông-dương” vào năm 1930 là nhuộm đỏ Đông-dương tức cướp chính quyền từ tay đảng phái, tổ chức không là cộng sản. Nhân sự được chọn lọc, đào tạo từ Nga-xô trở về đều có mục tiêu duy nhất là cướp chính quyền.

 

   Vì thế, khi Tàu cộng làm chủ lục địa, cuối 1949, thì Hồ vội khăn gói quả mướp, đầu năm 1950 sang Tàu cộng xin hỗ trợ việc cướp chính quyền trong tay các nhân sỹ, trí thức không đảng phái, các tổ chức không cộng sản trong chính phủ Liên hiệp kháng Pháp.

 

(Còn tiếp)

http://www.hon-viet.co.uk/VT_NN_LT_KeNoiPhetNhatHaiNgoai.htm

Advertisements

July 22, 2008 - Posted by | Uncategorized | ,

1 Comment »

  1. […] Kẻ nói phét nhất hải ngoại hiện nay là ai? (I) […]

    Pingback by Mục Lục « Danchutudo’s Weblog | October 5, 2008 | Reply


Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: